Triệu Ái - Mảnh đất con người

Thứ hai - 03/07/2017 10:24
Trụ sở xã Triệu Ái
Trụ sở xã Triệu Ái
1. Đặc điểm địa lý, tự nhiên.
            Xã Triệu Ái nằm ở vùng gò đồi phía Tây của huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, có diện tích đất tự nhiên 10.211,68 ha. Vị trí địa lý 16o44’ vĩ độ Bắc, 107o40’ kinh độ Đông. Nằm giữa thành phố tỉnh lỵ Đông Hà và thị xã Quảng Trị, giáp thị trấn huyện lỵ Ái Tử. Phía Đông Bắc giáp phường Đông Lương – thành phố Đông Hà, xã Triệu Giang – huyện Triệu Phong. Phía Tây Bắc giáp phường 3 – thành phố Đông Hà, xã Cam Hiếu – huyện Cam Lộ. Phía Đông và Đông Nam giáp sông Thạch Hãn, thị trấn Ái Tử và xã Triệu Thượng – huyện Triệu Phong. Phía Tây Nam giáp xã Cam Chính – huyện Cam Lộ, xã Ba Lòng – huyện Đakrông.
            Địa hình xã Triệu Ái có cấu trúc không đồng nhất, hướng thấp dần từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình từ 3-20o. Địa hình phía Đông và phía Đông Nam từ đường sắt đến quốc lộ 1A có bề mặt khá bằng phẳng, hẹp, thoải và ít dốc, thường xuyên bị ngập lụt vào mùa mưa nên được bồi đắp một lượng phù sa tương đối, do đó khu vực này chủ yếu thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp. Khu vực phía Tây, phía Nam của xã có địa hình sườn đồi thoai thoải đến cao dần lên phía Tây nhưng độ cao vừa phải, tạo thành những vùng đồi bát úp trập trùng. Tuy vậy vẫn có những ngọn đồi khá cao nổi trội như: Núi Bụ, Leo Ác, Ba Chĩa… Khu vực này chủ yếu tập trung trồng cây lâm nghiệp như tràm, cao su, thông, sắn,… Dưới những ngọn đồi là những bãi đất hẹp, nhỏ, người dân đã tận dụng canh tác cây lúa nước, đảm bảo một phần lương thực cung cấp cho cuộc sống.
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Triệu Ái 10.211,68 ha, chiếm 28,86% diện tích đất tự nhiên của huyện Triệu Phong, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp có 8.950,94 ha, chiếm 87,65% diện tích đất tự nhiên toàn xã; Đất phi nông nghiệp có 960,11 ha, chiếm 9,40%; Đất khu dân cư có 19,84 ha, chiếm 0,20%; Đất chưa sử dụng 280,79 ha, chiếm 2,75%. Nhìn chung, trên địa bàn xã Triệu Ái chủ yếu là loại đất nâu đỏ trên nền đất đỏ bazan chiếm diện tích lớn nhất, phân bố tập trung ở phía Tây của xã.
Xã Triệu Ái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, quanh năm nóng ẩm. Chia làm hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, có nhiệt độ cao kết hợp với gió phơn Tây Nam (gió Lào) khô và nóng, nhiệt độ cao từ 36 - 40­­oC, độ ẩm không khí thường xuyên dưới 50%. Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, có nhiệt độ thấp kết hợp với gió mùa Đông Bắc gây rét, có khi rét đậm, rét hại vào các tháng 12 và qua tháng 01 năm sau, nhiệt độ thấp nhất từ 12 đến 16oC, có khi xuống dưới 8oC. Đặc biệt vào mùa mưa thường xuất hiện các cơn bão vào tháng 10, 11 với tần suất từ 3 đến 4 cơn bão kèm theo mưa lũ. Do sự phân hóa thành hai mùa rõ rệt nên số giờ nắng trong năm từ 1.600 - 1.800 giờ/năm, lượng mưa trung bình từ 2.500 - 2.700mm/năm, độ ẩm bình quân cả năm từ 75 - 80%. Đặc điểm khí hậu thời tiết như vậy nên thường xuyên hạn hán vào mùa khô và bão lụt vào mùa mưa, do đó một mặt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nhưng mặt khác làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, đi lại, nhất là việc bố trí thời vụ trong canh tác các loại cây trồng.
Sông chảy qua địa bàn xã Triệu Ái có 02 sông là Vĩnh Phước và Ái Tử. Sông Vĩnh Phước hiện nay là ranh giới giữa xã Triệu Ái với thành phố Đông Hà và huyện Cam Lộ về phía Bắc. Sông bắt nguồn từ vùng đồi núi thuộc xã Cam Nghĩa, Cam Chính (huyện Cam Lộ) có chiều dài 45km, diện tích lưu vực 293km2, chảy qua địa bàn xã có chiều rộng trung bình 50 – 70m, rồi đổ vào sông Thạch Hãn.
Sông Ái Tử bắt nguồn từ vùng đồi núi Ba Lòng thuộc huyện Đakrông chảy quanh co bám theo các sườn đồi có độ dốc vừa phải rồi đổ vào sông Thạch Hãn. Sông có chiều rộng trung bình 20 - 30m ở phía hạ lưu và 15 - 20m ở phía thượng lưu; tổng chiều dài 30km, diện tích lưu vực 95,1km2. Trên dòng sông Ái Tử đã lưu dấu chiến công của danh tướng Đặng Dung đánh tan quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) do Trương Phụ chỉ huy vào năm 1413 và Đoan quận công Nguyễn Hoàng trong trận đánh tan tướng nhà Mạc là Lập Bạo vào năm 1572. Đặc biệt sông Ái Tử đã đi vào lịch sử với câu ca dao thấm đượm tình mẫu tử, vợ chồng trong cuộc sống hằng ngày:
“Mẹ thương con ra cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”
            Đặc điểm các sông là về mùa hè có mực nước thấp, phẳng lặng, có nhiều đoạn khô cạn. Về mùa mưa nước sông dâng cao, chảy xiết, làm ngập lụt một vùng rộng lớn hai bên hữu ngạn và tả ngạn nhưng lại bù đắp phù sa, tăng độ màu mỡ cho đất. Ngoài ra trên địa bàn xã Triệu Ái còn có hồ Ái Tử, đập Mụ Huyện và các khe Lấu, khe Bàu, khe Bạc, khe Cát, khe Su, khe Dụ, khe Núc, choi Mương Nước…
Hệ thống sông, hồ, khe, suối đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã.
            Từ xa xưa, hệ sinh thái rừng và tài nguyên rừng của xã Triệu Ái phong phú, đa dạng về chủng loại và trữ lượng. Về động vật có hổ, voi, nai, mang, heo rừng, bò rừng, gà rừng, trâu rừng, nhím, vượn, tê tê, chồn; các loại chim công, trĩ, vẹt, sáo, khướu… Về gỗ càng đi lên phía Tây giáp với huyện Đakrông có các loại gỗ gỏ, kiền, sú…; thấp hơn một chút có cây tranh, mây, giang, lau và một số cây dược liệu quý như: cát căn, ngũ da bì, quéo đằng, bách bộ, hà thủ ô, bướm bạc, lá vằng…
Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, do chiến tranh tàn phá và sự khai thác, săn bắn của con người, đặc biệt là quá trình phát triển rừng kinh tế đã làm cho nguồn động vật, thực vật rừng bị cạn dần và không còn phong phú như trước đây. Ngày nay để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, khai thác tiềm năng vùng gò đồi, nhân dân phát triển các loại cây lâm nghiệp với cây tràm và cao su đóng vai trò chủ đạo, đây là hướng đi chính, chủ yếu hiện nay và trong thời gian đến.
            Hệ thống giao thông của xã Triệu Ái gồm đường bộ, đường sắt và đường thủy.
Đường bộ có đường quốc lộ 1A chạy ngang qua, còn lại chủ yếu là các lối mòn dân sinh theo hướng từ phía Đông lên phía Tây để phục vụ việc khai thác lâm thổ sản phục vụ dân sinh. Theo thời gian, trên các lối mòn dân sinh từng bước hình thành các tuyến đường mới to rộng hơn nối liền được nhiều thôn của xã với nhau, có nhiều tuyến được nâng cấp từ đường xã lên thành đường huyện, tỉnh, cụ thể có các tuyến đường như sau:
+ Quốc lộ 1A (D3) dài 3,3km: bắt đầu từ Nam cầu Lai Phước tại km 761 + 500 đến đội 1, thôn Ái Tử, giáp với tiểu thu 4, thị trấn Ái Tử tại km 764 + 800. Nền đường 37m, mặt đường rộng 23m, dải phân cách 2m, vỉa hè mỗi bên 6m.
+ Đường cao tốc Cam Lộ - Túy Loan đi qua địa bàn xã (D5). Theo thiết kế đường đạt tiêu chuẩn đường cao tốc, với 4-6 làn xe.
+ Đường Hùng Vương nối dài: bắt đầu từ Nam cầu Vĩnh Phước đi qua các thôn Hà Xá, Tân Phổ, Kiên Phước, Ái Tử, Nại Hiệp.
+ Đường về xã Triệu Thượng (ĐH34): bắt đầu từ thị trấn Ái Tử qua thôn Nại Hiệp (xã Triệu Ái) về xã Triệu Thượng.
+ Đường Ái Tử - Trừ Lấu (ĐT579): bắt đầu từ quốc lộ 1A thuộc thị trấn Ái Tử đi qua các thôn Ái Tử, Liên Phong, Trung Long, lên đến huyện Cam Lộ nối vào Quốc lộ 9.
+ Đường Phú Áng - Tràng Sòi (ĐH33) dài 10km: người dân thường gọi là đường Bảo Đại hay đường Vĩnh Thụy bắt đầu từ quốc lộ 1A tại km 762 + 500 thuộc thôn Phú Áng (xã Triệu Giang) lên Tân Phổ, Kiên Phước, Tràng Sòi (xã Triệu Ái) nối vào đường cao tốc Cam Lộ - Túy Loan (theo quy hoạch).
+ Đường Triệu Ái – Triệu Thượng (ĐH35) dài 12km: bắt đầu từ Nam sông Vĩnh Phước qua thôn Tràng Sòi – Liên Phong về xã Triệu Thượng. Đường đạt tiêu chuẩn cấp V, nền đường 10m, mặt đường rộng 6m.
Tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua địa bàn xã bắt đầu từ phía Nam cầu Lai Phước đến phía Nam thôn Ái Tử có chiều dài trên 8 km, là đường ranh giới giữa xã Triệu Ái với thị trấn Ái Tử và một số thôn của xã Triệu Giang về phía Đông. Đường thủy trước đây có tuyến đường sông Vĩnh Phước đi huyện Cam Lộ.
            2. Đặc điểm văn hóa - xã hội.
            Hiện nay, toàn xã Triệu Ái có 1.059 hộ, với 4.278 nhân khẩu được phân bổ trên 9 thôn, trong đó: Ái Tử có 1.976 người, Hà Xá có 809 người, Kiên Mỹ có 147 người, Tân Phổ có 443 người, Kiên Phước 207 người, Nại Hiệp 460 người, Liên Phong có 159 người, Trung Long có 68 người, Tràng Sòi có 9 người. Lực lượng lao động chiếm 52,6% dân số toàn xã, có tinh thần cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất. Số hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp chiếm 70,82%.
            3. Đặc điểm dân cư.
Trước thế kỷ XIV, đất Triệu Ái bây giờ vốn thuộc vùng đất châu Ô Lý (hay Rí, người Chăm gọi là Ulik) của vương quốc Chăm pa (Chiêm Thành) nên cư dân từng sinh sống ở đây có người Chăm cổ. Sau khi châu Ô Lý "vuông nghìn dặm" được vua Chăm pa là Chế Mân cắt nhập vào nước ta, trở thành một bộ phận của nước Đại Việt và được đổi tên thành châu Thuận, Hóa thì bộ phận người Chăm này di cư vào phía Nam (thuộc Chăm pa); một bộ phận còn lại do chiến tranh loạn lạc, ly tán và quá trình cộng cư với người Việt đã dần dần Việt hóa theo thời gian, ngày nay còn lưu lại một số từ ngữ mà người dân vẫn sử dụng được cho là có nguồn gốc từ người Chăm như “xuốc” (quét), “cươi” (sân), “rọong” (ruộng), “nác lã” (nước chưa đun sôi)…
Trên mảnh đất Triệu Ái ghi nhận có một bộ phận ít ỏi người Bru Vân Kiều và người Lê (hay người Ái) từng sinh sống. Người Bru Vân Kiều sinh sống rải rác dọc sông Ái Tử, tập trung đông nhất ở khu vực rừng Trừ Lấu lên phía Tây. Hàng năm, cứ đến tháng 11 âm lịch có một số dân làng Ái Tử lên Trừ Lấu để giúp người Bru Vân Kiều thu hoạch lúa; ngược lại đến Tết Nguyên đán đồng bào Bru Vân Kiều xuống chúc Tết bà con dân làng Ái Tử. Về sau bộ phận người Bru Vân Kiều này càng di cư lên phía Tây và định cư ở huyện Đakrông và Hướng Hóa. Đến năm 1950 vẫn còn 05 hộ sinh sống ở khe Táy, thượng nguồn sông Ái Tử nhưng nay đã di chuyển đến nơi khác. Một số địa danh gắn với đồng bào Bru Vân Kiều ở Ái Tử, Triệu Ái như khe Klo (có nghĩa là con ốc đất), đồng Cha Niên, Cha Trau, Cha Đê, Cha Căng, Cha Thơm. Cha Rợ, Cha Ốc... (tại xóm Đinh Thượng); có ngôi miếu thờ ông Pả Piên (tại đồng Lương Cồn).
Người Lê (hay người Ái) là người Kinh sinh sống dọc Rào Ái (sông Ái Tử), sau đó di chuyển lên Ba Lòng một thời gian rồi theo khe Lá tiến đến khe A Lao rồi cộng cư với người Pa Hy (ở tỉnh Thừa Thiên Huế di cư ra) nên dần dần hòa vào dân tộc này, sinh sống ở thôn Pa Hy thuộc xã Tà Long (huyện Đakrông).
Hiện nay, người Chăm cổ, người Bru Vân Kiều và người Lê không còn cư ngụ trên địa bàn xã Triệu Ái.
            Năm 1306, châu Ô Lý của vương quốc Chăm Pa cổ trở thành một bộ phận của nước Đại Việt. Kể từ đây, để ổn định miền biên ải, các triều đại phong kiến Việt Nam thực hiện chính sách chiêu mộ dân binh ở các tỉnh miền Bắc vào vùng đất Thuận Hóa để sinh cơ lập nghiệp, đồng thời “tìm chọn người làm quan lại, cấp ruộng đất và miễn tô thuế trong 3 năm”. Đến thế kỷ XV, XVI, những cuộc di dân bắt đầu mạnh lên, từng đoàn người kéo nhau vào vùng Thuận Hóa khai phá đất đai, lập làng sinh sống, làm ăn, định cư lâu dài. Các đoàn người này định cư chủ yếu ở vùng đồng bằng khá đông để thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi; còn phía cao có ít người sinh sống hơn.
            Đặc biệt, năm 1558, vua Lê Anh Tông cho phép Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa đã đưa theo bà con họ hàng thân thích ở huyện Tống Sơn (Thanh Hóa) và chiêu mộ thêm binh lính, dân lâu ly ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An,… cùng vào đây sinh cơ lập nghiệp. Cùng thời gian này do lũ lụt to, mất mùa đói kém, dịch bệnh, một bộ phận dân cư đã rời bỏ quê hương phiêu bạt vào đây sinh sống. Như vậy dân cư trên địa bàn xã có nguồn gốc chủ yếu là người Thanh – Nghệ - Tĩnh. Theo gia phả một số làng thì người Thanh – Nghệ - Tĩnh cư ngụ sớm tại Triệu Ái tập trung ở các làng Ái Tử, Hà Xá,… nhưng Ái Tử sớm hơn cả vì đây là đất Đoan quận công Nguyễn Hoàng đặt dinh sở đầu tiên. 
            Bên cạnh người gốc Thanh – Nghệ - Tĩnh chiếm đa phần, về sau còn có một số ít người dân đến xã Triệu Ái sớm để lập nghiệp rồi hình thành thêm các làng mới:
+ Bộ phận người gốc huyện Thường Tín (thành phố Hà Nội), huyện Hương Điền (tỉnh Thừa Thiên), huyện Hoằng Hóa (tỉnh Thanh Hóa) đến cư ngụ và cùng lập nên làng Kiên Mỹ.
+ Bộ phận người gốc huyện Quảng Điền (tỉnh Thừa Thiên Huế), xã Hải Trí (nay thuộc thị xã Quảng Trị), huyện Mộ Đức (tỉnh Quảng Ngãi) đến cư ngụ và lập nên làng Tân Phổ.
+ Bộ phận người gốc làng Tả Kiên, Phước Mỹ (Triệu Giang) đến cư ngụ và lập nên làng Kiên Phước.
+ Bộ phận người gốc Nại Cửu (xã Triệu Đông) đến cư ngụ và lập nên làng Nại Cửu phường. Một bộ phận người gốc Bắc vào sinh sống lâu đời ở Thừa Thiên ra và một số người Tả Hữu (xã Triệu Thượng) đến cư ngụ và lập nên làng Hiệp Khế (Xuân Khê). Đến cuối những năm 70 đầu 80 của thế kỷ XX, hai làng Nại Cửu phường và Hiệp Khế được sáp nhập lại thành thôn Nại Hiệp.
+ Bộ phận người dân các xã Triệu Giang, Triệu Phước, Triệu Tài, Triệu Đông, Triệu Long, Triệu Trung, Triệu Độ, Triệu Thuận lên xây dựng vùng kinh tế mới ở phía Tây của xã và thành lập thêm các thôn Trung Long, Liên Phong, Tràng Sòi.
            4. Địa danh, địa giới xã Triệu Ái.
            Từ buổi đầu dựng nước, lập ra nhà nước Văn Lang, các vua Hùng đã chia cả nước ra thành 15 bộ. Vùng đất về sau thuộc xã Triệu Ái nằm trong bộ Việt Thường (gồm vùng đất Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay). Đầu thời kỳ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, vùng đất về sau thuộc xã Triệu Ái thuộc quận Nhật Nam của nhà Hán. Đến cuối thế kỷ thứ II, nhân dân vùng Nhật Nam đã nổi dậy khởi nghĩa chống lại quân đô hộ Trung Quốc và giành thắng lợi, lập ra nhà nước Chăm Pa. Biên giới phía Bắc ra đến dãy Hoành Sơn (đèo Ngang bây giờ). Từ đó cho đến cuối thế kỷ XIII, vùng đất về sau thuộc xã Triệu Ái thuộc châu Ô Lý của vương quốc Chăm Pa cổ.
            Năm 1306, cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trần và vua Chiêm Thành là Chế Mân đã đem về cho Đại Việt món quà sính lễ quý giá mà Chế Mân dâng cho Đại Việt hai châu Ô Lý "vuông nghìn dặm" kéo dài từ Bắc Quảng Bình đến sông Thu Bồn của Quảng Nam. Năm 1307, nhà Trần đã đổi châu Ô Lý thành hai châu Thuận, Hóa. Từ đây, vùng đất về sau thuộc xã Triệu Ái thuộc huyện Hoa Lãng nằm trong châu Thuận. Năm 1469, năm Quang Thuận thứ 10, vua Lê Thánh Tông đã cho lập lại bản đồ và chia lại đơn vị hành chính trong cả nước thành “13 xứ, 52 phủ, 172 huyện và 50 châu”. Huyện Hoa Lãng được đổi tên thành huyện Võ Xương (hay Vũ Xương) thuộc phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa.
Năm 1483, huyện Võ Xương thuộc phủ Triệu Phong có 59 làng, riêng địa bàn Triệu Ái ngày nay có xã/làng Ái Tử cũng hình thành trong giai đoạn này. Đến năm 1765, do kiêng thụy hiệu Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát đã cho đổi huyện Võ Xương thành huyện Đăng Xương. Từ thời vua Kiến Phúc – Hàm Nghi (1884-1885), do trùng húy nên vua Kiến Phúc cho đổi huyện Đăng Xương thành huyện Thuận Xương thuộc phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa. Huyện Đăng Xương (Thuận Xương) có 5 tổng: An Phúc, An Lưu, An Cư, An Đôn, An Lạc. Tổng An Đôn có 22 xã/làng, 8 phường, 5 giáp. Địa bàn Triệu Ái thuộc tổng An Đôn, huyện Đăng Xương, sau đến là huyện Thuận Xương. Giai đoạn này ngoài xã/làng Ái Tử thì có thêm xã/làng Hà Xá.
Năm 1886, dưới thời vua Đồng Khánh bỏ lệ kiêng húy lại gọi trở lại huyện Đăng Xương. Huyện Đăng Xương có 5 tổng là: An Đôn, Bích La, An Dã (hay An Dạ), An Cư và An Lưu. Tổng An Đôn có 26 xã/làng, thôn, phường, ấp, giáp, trong đó có 4 địa danh về sau thuộc xã Triệu Ái là xã/làng Ái Tử, xã/làng Hà Xá, làng/phường Hiệp Khế (Hợp Khế), làng/ấp Kiên Mỹ.
 Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng bỏ đơn vị tổng và phủ để thành lập xã và huyện. Trên địa bàn Triệu Ái các làng trước đây hợp nhất lại thành các xã sau:
+ Xã Ái Hà có các thôn Hà Xá, Lai Phước, Tân Vân Vĩnh, Phú Áng.
+ Xã Phùng Hưng có các thôn Tân Phổ, phường Phương Ngạn, Kiên Phước, Kiên Mỹ, Phước Mỹ.
+ Xã Ái Nại Hiệp có các thôn Ái Tử, Nại Cửu phường, Hiệp Khế (Xuân Khê).  
     Tháng 8/1946, các xã nhỏ được sắp xếp, sáp nhập lại thành các xã lớn, toàn huyện có 14 xã. Triệu Ái lúc này là xã Phong An gồm có các thôn của các xã sau sáp nhập lại là: thôn Hà Xá, Phú Áng (của xã Ái Hà), Tân Phổ (kể cả phường Phương Ngạn), Kiên Mỹ, Kiên Phước, Phước Mỹ (của xã Phùng Hưng), Ái Tử, Nại Cửu Phường, Hiệp Khế (của xã Ái Nại Hiệp), Trà Liên, Tiền Kiên, Tả Kiên và Giang Hến, (gọi là xã Liên Giang, này là xã Triệu Giang). Riêng các thôn còn lại của xã Ái Hà là Tân Vân Vĩnh và Lai Phước nhập về xã Phong Hanh (thuộc phường Đông Lương hiện nay).
Năm 1950, thực hiện Quyết nghị số 1027-QN/P5 ngày 17/8/1950 của Ủy ban Hành chính Liên khu IV, một cuộc hiệp xã lớn hơn nữa tiếp tục được thực hiện, xã Phong An (gồm các thôn Hà Xá, Tân Phổ, Kiên Mỹ, Kiên Phước, Ái Tử, Nại Cửu phường, Hiệp Khế, Phú Áng, Phước Mỹ) sáp nhập với xã Phong Sơn (tức xã Triệu Thượng hiện nay, gồm các thôn Nhan Biều, Tả Hữu, Trung Kiên, Xuân An, Thượng Phước, Phúc Khê, An Đôn) thành xã Triệu Sơn. Các thôn Trà Liên, Tả Kiên, Tiền Kiên (hiện nay thuộc xã Triệu Giang) và thôn Giang Hến (hiện nay thuộc tiểu khu 5, thị trấn Ái Tử) của xã Phong An nhập về xã Triệu Quang (tức xã Triệu Long).
Tháng 7/1954, theo Hiệp định Giơnevơ, lấy vĩ tuyến 170, sông Bến Hải được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, xã Triệu Ái nằm ở phía Nam giới tuyến. Năm 1958, theo Nghị định 215-HC/P6 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa “Về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính”, toàn tỉnh Quảng Trị, địch cho chia đặt lại toàn bộ cơ cấu hành chính thành 7 quận. Cấp đơn vị hành chính huyện gọi là quận. Xã Triệu Sơn trước đây được tách ra thành hai xã Triệu Thượng và Triệu Ái trực thuộc quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
+ Xã Triệu Thượng gồm các thôn: Nhan Biều, Tả Hữu, Trung Kiên, Xuân An, Thượng Phước, Phúc Khê, An Đôn.
+ Xã Triệu Ái gồm các thôn: Hà Xá, Tân Phổ (kể cả phường Phương Ngạn), Kiên Mỹ, Kiên Phước, Ái Tử, Nại Cửu phường, Hiệp Khế; cắt các thôn Tân Vân Vĩnh, Lai Phước của xã Triệu Lương về lại xã Triệu Ái. Như vậy, tên xã Triệu Ái được dùng từ năm 1958 cho đến ngày nay.
+ Cắt các thôn Phú Áng, Phước Mỹ của xã Triệu Sơn và các thôn Trà Liên, Tả Kiên, Tiền Kiên, Giang Hến từ xã Triệu Quang (tức Triệu Long hiện nay) để thành lập xã mới là Triệu Giang.
Ngày 01/7/1967, thị xã Quảng Hà được thành lập. Xã Triệu Ái là 1 trong 6 xã và 4 thôn vùng ven cùng với thị xã Quảng Trị và Đông Hà thuộc thị xã Quảng Hà đặt dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Trị Thiên. Tháng 3/1969, Khu ủy Trị Thiên cho chia tách thị xã Quảng Hà thành thị xã Quảng Trị và Đông Hà, trả lại các xã, thôn vùng ven cho các đơn vị cũ. Xã Triệu Ái trở về lại huyện Triệu Phong. Đầu tháng 10/1971, tái lập lại thị xã Quảng Hà. Xã Triệu Ái thuộc thị xã Quảng Hà.
            Năm 1972, sau khi quê hương được giải phóng, đã tách các thôn Tân Vân Vĩnh và Lai Phước về xã Triệu Lương. Năm 1977, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về lập huyện lớn, tỉnh lớn, xã Triệu Ái thuộc huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên.
Cũng trong thời gian từ 1977 đến 1979, cùng với quá trình tụ cư, cộng cư thì một bộ phận người dân của xã và các xã khác trong huyện chấp hành chủ trương của tỉnh và huyện đi xây dựng vùng kinh tế mới ở các tỉnh phía Nam (cũng có một số đi tự do), nhiều nhất ở tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng, ngoài ra rải rác có ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kon Tum, Gia Lai, Bình Phước, Tây Ninh…
Ngày 01/5/1990, thực hiện Quyết định số 91/QĐ-HĐBT ngày 23/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) "Về việc chia huyện Triệu Hải thành huyện Triệu Phong và huyện Hải Lăng", xã Triệu Ái trở về lại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Năm 1992, thành lập thêm các thôn kinh tế mới ở phía Tây của xã gồm Liên Phong, Trung Long, Tràng Sòi. Tháng 8/1994, cắt một phần diện tích của thôn Ái Tử để thành lập đơn vị hành chính thị trấn Ái Tử - thị trấn huyện lỵ của huyện Triệu Phong. Từ đó cho đến nay xã Triệu Ái ổn định về đơn vị hành chính. Gồm có 9 thôn: Ái Tử, Hà Xá, Kiên Mỹ, Tân Phổ, Kiên Phước, Nại Hiệp (hai làng Nại Cửu phường và Hiệp Khế nhập lại), Liên Phong, Trung Long, Tràng Sòi.
                                        (Trích từ Lịch sử Đảng bộ xã Triệu Ái giai đoạn 1930-2000)

 

Tác giả bài viết: Đặng Sỹ Dũng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây